Sau khi cuốn hồi ký The GULAG Archipelago (Quần Ðảo Ngục Tù) của nhà văn
Aleksandr Solzhenitsyn (Nga) được nhà xuất bản Harper & Row (Hoa Kỳ) xuất bản
năm 1973, giới văn học cũng như báo chí và truyền thông thế giới mới được biết
một phần nào về chế độ lao tù của Cộng sản, đặc biệt là tại Sô Viết. Trong cộng
đồng Việt Nam, trước Solzhenitsyn, năm 1969 tác giả Trần Văn Thái đã cho ra mắt
cuốn hồi ký Trại Ðầm Ðùn (giải thưởng văn học nghệ thuật 1969 về bộ môn văn),
nhưng có rất ít báo chí và truyền thông Việt Nam Cộng Hòa nhắc đến tác phẩm này.
Tại hải ngoại, sau 30 tháng 4 năm 1975, tập thể người Việt tị nạn mới được hiểu
rõ hơn về chế độ lao tù của Cộng sản Việt Nam qua các cuốn hồi ký như: Cùm Ðỏ
của Phạm Quốc Bảo (1983), Ðại Học Máu của Hà Thúc Sinh (1985), Thép Ðen của Ðặng
Chí Bình (1987), Hà Nội Báo Ðộng Ðỏ của Dương Văn Lợi (1992). Tôi đã đọc hết các
quyển hồi ký này bằng một tấm lòng của một người chưa hề bị tù tội bao giờ.
Nhưng càng đọc, tôi lại càng cảm thấy như chính mình đang ở trong cái hoàn cảnh
nghiệt ngã ấy.
Cùng năm 1992, tác giả Nguyễn Chí Thiệp cho ra mắt cuốn hồi ký Trại Kiên Giam
nhưng tôi chưa có dịp được nhìn thấy tác phẩm, cho mãi tới hôm nay tôi mới có
dịp đọc ấn bản tái bản lần thứ hai (10/2000) do văn hữu Ngô Sỹ Hân gửi tặng.
Tôi đã lần đọc từng trang sách để cảm nhận và chia xẻ với tác giả cùng những bạn
tù của ông về những nỗi khổ đau của người ngã ngựa, những tháng năm quằn quại
trong lao tù Cộng Sản, những chí hướng quật khởi kiên cường, những mộng ước mai
sau về một xã hội hậu Cộng Sản, v.v.. Ðọc suốt tác phẩm, tôi lắng nghe con tim
mình thổn thức, xao xuyến và bồi hồi. Cảm nhận nỗi đau đớn của tác giả như chính
nỗi đau đớn của mình, của dân tộc mình. Ðọc tác phẩm Trại Kiên Giam để đi tìm
một ánh sáng ở cuối đường hầm, để bắt gặp những hào kiệt trong một xã hội tan
rã, để gặp lại những đồng chí còn cưu mang hoài bão cho một nước Việt Nam Tự Do,
v.v.
Sau khi gấp sách lại, tâm tình lắng đọng, tôi tạm chia nội dung cuốn hồi ký Trại
Kiên Giam của Nguyễn Chí Thiệp thành 6 phần như sau: Bối cảnh Miền Nam sau
30/4/1975, Người Cộng Sản nói về Cộng Sản, Những bài học đắng cay của chính tác
giả, Những tháng năm trong lao tù Cộng Sản, Những cái nhìn thiết thực về Cộng
sản, và Những mong ước và hoài bão.
I. Bối cảnh Miền Nam sau 30/4/1975
Ở phần này, tác giả ghi lại từng chi tiết một về bối cảnh sinh hoạt của Miền
Nam, nói chung, và Sài-Gòn, nói riêng, sau ngày 30/4/1975, như: sinh kế thường
nhật của người dân, cảm nghĩ về chính quyền mới, sự lo lắng cho chính bản thân
mình và thận phận mình, các tổ chức chống đối chế độ mới, những cuộc trình diện
học tập, v.v.
Nhờ có óc quan sát tinh tường, sự nhận thức sâu sắc và sự nhận định chính xác,
tác giả đã diễn tả sự hiểu biết về Cộng Sản của người dân Miền Nam một cách tổng
quát như sau: "Cái hiểu biết quá đơn sơ về Cộng Sản nên đa số chỉ nghĩ là phải
khổ và chịu khổ được, chịu ăn mặc xấu xí được là có thể sống yên thân trong chế
độ Cộng Sản". (trang 25) Chính sự hiểu biết quá đơn sơ ấy đã xui người dân Miền
Nam phải miễn cưởng chấp nhận một cuộc đổi đời bi thảm bằng chính xương máu và
nước mắt của mình.
Nói tóm lại, tâm lý chung của người dân Miền Nam lúc bấy giờ là:
"Tâm lý đứng núi
nầy trông núi nọ, tình hình chính trị tồi tệ của miền Nam, sự kém hiểu biết về
Cộng sản làm nhiều người không còn sợ Cộng sản". (trang 31) Không còn sợ Cộng sản
nữa, nhưng họ cũng không biết phải làm gì để diệt trừ chúng, mặc dù
"Ða số dân
Saigon không chịu mang dép râu đội mũ tai bèo". (trang 26) Bởi vì họ đã nhìn thấy
tận mắt hình ảnh của người lính Bắc Việt: "Người lính giải phóng trông ngờ
nghệch, lúng túng trước cảnh rộn rịp và to lớn của Saigon, phần lớn họ rất trẻ".
(trang 26) Thế mà người dân Miền Nam đã bị Cộng sản đánh lừa một cách đau đớn:
"Giờ đây mấy lon gạo cứu đói là lý do buộc họ phải ra khỏi thành phố về quê sản
xuất theo chính sách. Họ có cảm tưởng bị đánh lừa". (trang 31) Càng bị đánh lừa
thì người dân càng thấm thía nỗi đau: "Người dân nghèo mới vỡ lẽ, cách mạng đem
lại vinh quang và công bình cho người nghèo trong tổ chức của họ, còn dân nghèo
muôn đời vẫn là người chịu đựng trước tiên những đau khổ, áp bức theo chính sách
phải đi ra khỏi thành phố trước cả mấy ông 'ngụy quân', 'ngụy quyền'
". (trang 32)
II. Người Cộng Sản nói về Cộng Sản
Không ai hiểu rõ Cộng sản bằng chính người Cộng sản. Chính vì thế mà chính quyền
VNCH đã có chính sách chiêu hồi và sử dụng những người chiêu hồi ấy vào những
công tác tình báo và tâm lý chiến, chẳng hạn như Thượng Tá Tám Hà và nhà văn
Xuân Vũ, v.v. Cho tới ngày 30/4/1975 chính tác giả Nguyễn Chí Thiệp, mặc dù là
một công chức trung cấp, cũng chưa có cái nhìn rõ rệt về Cộng sản cho nên ông đã
quyết định ở lại để rồi sau đó phải nhận lãnh 12 năm tù.
Sau 30/4/1975, một người chú họ của tác giả từ Hà Nội vào thăm thân nhân ở Ðà
Nẵng. Khi thấy Nguyễn Chí Thiệp còn ở lại VN, ông ta ngạc nhiên hỏi:
"Tại sao
cháu không đi Mỹ? Về đến Ðà Nẵng, gặp chị (mẹ tôi) nói cả gia đình ở lại Saigon.
Cháu không đi nước ngoài thật vô lý". (trang 36) Nhờ lần gặp đầu tiên với chú
Bình (kỹ sư của Bắc Việt) tác giả mới có dịp tìm hiểu về bộ mặt thật của Cộng
sản và dứt khoát chọn một thái độ.
Chú Bình nói thẳng và nói thật với Nguyễn Chí Thiệp về chính sách trả thù của
Cộng sản như sau: "Cháu đừng nghĩ trả thù chỉ là giết chếthọ sẽ không giết nhưng
họ sẽ đưa đi các trại tập trung cải tạo không có ngày về". (trang 37)
Về chủ trương của Cộng sản, chú Bình cho biết: "Ðảng chủ trương phá bỏ luân lý
cũ, phá vỡ trật tự xã hội, đưa trẻ con ra ngoài xã hội, nhưng Ðảng lại quá tham
lam, họ muốn sử dụng đứa trẻ mà không cưu mang nó, bắt gia đình phải nuôi nó,
Ðảng chỉ dạy cho nó hận thù và những phương pháp đấu tranh. Họ phủ nhận tình
thương giữa con người với nhau". (trang 38)
Sau khi nhìn thấy tận mắt cái vết tích của sự phồn vinh của Miền Nam trước
30/4/1975, chú Bình tiết lộ về cách xảo quyệt của hệ thống tuyên truyền của Miền
Bắc như sau: "Ở miền Bắc người ta đều hiểu sai về miền Nam, hệ thống tuyên truyền
của Hà Nội đã mô tả xã hội miền Nam cực kỳ xấu xa, lạc hậu và nghèo đói". (trang
39)
Ðể trả lời câu hỏi của Nguyễn Chí Thiệp "Tại sao người ta bất mãn mà không có
chống đối tích cực?", chú Bình cho biết: "Không chống đối vì sức đối kháng đã bị
tiêu diệt. Nghệ thuật cai trị của Cộng sản là tiêu diệt sức đề kháng của nhân
dân. Chính sách công an nhan dân và nhân dân hộ khẩu nhằm thi hành mục tiêu đó".
(trang 47)
Chú Bình căn dặn tác giả:" Ðừng mong đợi tụi nó (CS) làm gì cho đất nước. Chú là
đảng viên, chú được đi nhiều nơi, chú có suy nghĩcác khuyết điểm của chế độ Cộng
sản là bản chất không phải là hiện tượng, vậy nên nếu có hy sinh cũng vô ích mà
thôi". (trang 49)
Nói tóm lại, "Giai cấp lãnh đạo ở miền Bắc là một triều đình tập hợp chung quanh
vị Hoàng đế là lãnh tụ, cấu kết quyền lợi, dua nịnh lãnh tụ để bảo vệ quyền lợi
hiện có và con đường tiến thân". (trang 56)
III. Bài học đắng cay của chính tác giả
Sau khi được chú Bình giải thích cặn kẽ về Cộng sản, tác giả mới thấy được sự
sai lầm trong quyết định ở lại, ông tự thú nhận như sau:
"Lúc đó tôi mới biết hết
hậu quả của một quyết định sai của tôi. Ở lại, không những tôi bị tù đầy, mà gia
đình tôi cũng bị trả thù bằng chính sách phân biệt đối xử. Tôi đã nghĩ một cách
sai lầm là nếu tôi có bị hoàn cảnh lịch sử bỏ rơi, thì con em tôi còn nhỏ có thể
được lớn lên như là một người Việt Nam bình thường. Tôi bắt đầu thấy chính sách
trả thù của Cộng sản còn độc ác hơn là tắm máu". (trang 39)
Tác giả thố lộ tâm sự: "Những suy nghĩ làm tôi càng ân hận vì quyết định không di
tản, cái quyết định ở lại thật ngu xuẩn, chỉ vì nhất thời bức xúc, tức tối những
người lãnh đạo đê hèn, bỏ chạy trước địch quân mà không chiến đấu". (trang
131-132)
IV. Những tháng năm trong lao tù Cộng sản
Tác giả thuật lại cái đói lần đầu tiên trong đời ở trong trại tù Cộng sản:
"Tôi
đã thèm ăn từ lâu, khởi đầu là thèm đường, rồi thèm mỡ, bây giờ thèm đủ thứ,
chén cơm hẩm với nước muối bây giờ quá ngon, không đủ no, ăn vào lưng lửng nhưng
ngày nào cũng mong tới giờ cơm, mỗi bữa ăn tôi cố ngồi nhai từng muỗng, nhai
thật kỹ, miếng cơm thành ngọt hơn, phải chú ý nhai và kềm để cái lưỡi không cuốn
nuốt miếng cơm xuống, lơ đãng một tí là miếng cơm mới đưa vào mồm đã chạy tuột
xuống cuống họng một cách tự nhiên và nhanh chóng". (trang 141)
Chỉ mới bốn tháng nằm tù mà cơn đói đã hành hạ người tù rất là khổ sở:
"Kể từ thứ
năm tuần đó tôi được nhận quà lần đầu tiên. Ngồi ăn vội vàng những món nhà gửi,
chỉ mới bốn tháng ăn cơm với muối mà tôi như con ma đói, cái gì cũng thèm, cũng
ăn qua từ ngọt đến mặn, cắn vào miệng chưa kịp nhai đã vội nuốt, ăn bụng đã no
mà mắt vẫn thèm, miệng vẫn chảy nước dãi và muốn ăn nữa". (trang 169)
Về sự thâm độc của Cộng sản, tác giả cho biết: "Cộng sản Việt Nam thâm độc hơn.
Chúng giữ kẻ thù của chúng lại để làm nô lệ, làm con vật sản xuất trong các trại
tập trung mà chúng không tốn kém gì vì người tù phải tự làm lấy ăn và còn phải
nuôi bọn cai tù và đóng góp cho ngân sách nhà nước. (trang 171) Và
Cộng sản vắt
từ giọt máu của người tù ở trong trại cải tạo. Người tù đem sức ra làm lao động
đến kiệt sức và chết ở đó". (trang 251)
Tiêu chuẩn khẩu phần cho tù nhân ở trại tù Long Khánh như sau:
"Trưa và tối mỗi
bữa một chén cơm độn khoai mì với nước muối, nên mới có hơn hai năm cải tạo mà
những người trình diện trông đã tiều tụy lắm. Lương thực mỗi ngày cắt dần phần
gạo, thời gian đầu ăn toàn cơm nhưng gạo hẩm, sau nửa cơm nửa ngô, rồi ngô được
thay bằng khoai mì khô. Mức độ độn tăng dần theo thời gian, 50% độn, rồi 75%,
80%, rồi đến cuối năm 1978 mỗi tuần trại Long Khánh chỉ ăn 2 bữa cơm, 12 bữa ăn
còn lại chỉ ăn khoai mì khô". (trang 249)
Khi tù nhân ra đến trại Xuân Lộc thì khẩu phần lại teo rút đi vì cán bộ hậu cần
thông đồng với cán bộ quản giáo nhà bếp để ăn chận số phần ăn của tù. Tác giả
viết: "Chúng tôi được anh em đội nhà bếp thông báo trong
lần chở bắp đi đổi khoai mì, cán bộ hậu cần và cán bộ
quản giáo nhà bếp thông đồng nhau chở về 10 tấn khoai mì thối
của kho thực phẩm huyện Xuân Lộc. Trại sản xuất chính là ngô
trắng, ngô dùng ăn độn là phần tự túc của trại cùng với
phần tiêu chuẩn gạo của Bộ Nội Vụ. Theo công thức đổi các
loại lương thực của nhà nước Việt Cộng đề ra là gạo = 2 ngô
= 3 khoai lang = 4 khoai mì tức 1 kg [gạo] đổi 4 kg khoai mì. Như
vậy tiêu chuẩn phần ăn là 15 kg gạo cho mỗi người tù trong
một tháng; nếu độn 50% thì đáng lẽ phải ăn 7.5 kg gạo + 15 kg
ngô hoặc 7.5 kg gạo + 22.5 kg khoai lang hay 30 kg khoai mì (sắn). Nhưng
quản lý trại đã ăn gian chỉ cho ăn 7.5 kg gạo + 7.5 kg ngô, hoặc
7.5 kg khoai các loạitức là giảm lược tiêu chuẩn tổng cộng
chỉ 15 kg dù ăn loại lương thực nào. Ðó là bước gian lận
thứ nhất. Bước thứ hai là chúng đem ngô trắng [do] chúng tôi
sản xuất ra kho huyện đổi thành ngô đỏ. Ðến năm 1978 thì
mức độ độn càng cao, chúng càng ăn gian qua bước thứ ba là đem
ngô đổi khoai mì khô." (trang 266)
Vì thế nên cách ăn ở trong tù các tù nhân cũng phải ăn có phương pháp:
"Hôm nào
ăn ngô là tốt nhất, bốc từng hạt ngô vừa nhai vừa đếm, mỗi hạt ngô nhai thành 50
hay 100 lần thật kỹ, nhai kỹ hơn cả kiểu ăn Osawa gạo lức muối mè. Nhai nhiều
lần không nuốt thì hạt ngô cũng biến vào cổ lúc nào không hay. Lại tiếp tục nhai
đến hạt khác. Thường thường mỗi bữa ăn từ hơn 250 đến 260 hạt, lần nhiều nhất
được 267 hạt và có lần ít chỉ được 187 hạt". (trang311)
Tới năm thứ ba trong tù (1979), tác giả diễn tả thân thể của mình như sau:
"Nằm
nắn bóp thân thể hàng ngày, sờ rõ những khoản lồi lõm trên đầu, trên mặt, ở cổ
tay, cổ chân, khuỷu tay, đầu gối, chỗ nào cũng lòi ra, hai cái mông đã teo hết
thịt, xương mông lồi ra chạm vào bệ nằm đau điếng khi chuyển trở mình". (trang
312)
Miếng ăn ở trong tù là một nhu cầu tối quan trọng, nhất là những người bị nhốt
trong xà lim lâu ngày như Nguyễn Chí Thiệp. Tác giả thuật lại như sau:
"Nằm mãi
xà lim, kiểm lại thân thể và những nhu cầu đòi hỏi, tôi tưởng mỡ với đường là
quan trọng; nhưng khi thèm muối mới thấy muối còn quan trọng hơn cả đường mỡ.
Không có muối con người cứ mỏi mệt dần dần, mỏi từ thớ thịt đến từng khớp xương.
(trang 315) Ông viết tiếp: Nhắc tới thịt tôi cũng rỏ nước miếng, nuốt liền mấy
lần nước miếng vẫn ứa ra đầy mồm. Tôi đang thèm mọi thứ, đã 38 ngày ăn lạt,
không có tí muối, người đã rã rượi, mỏi nhừ, chỉ cần một muỗng nước muối đã là
hạnh phúc lắm đừng nói đến đường hay một miếng thịt, nhất là miếng mỡ heo".
(trang 322)
Tác giả diễn tả giá trị của miếng thịt và cục đường ở trong xà lim như sau:
"Chết
và Sống đối với người tù kỷ luật tính hàng ngày, hàng giờ. Một món thức ăn vô
cùng quan trọng, có thể kéo dài thêm sự sống một thời gian ngắn, không chừng
trong thời gian đó lại được thả ra, lúc đó thì lại sống trở lại, giá trị miếng
thịt, cục đường nó ngang với sự sống trong hoàn cảnh này". (trang 322)
Ở trại tù Xuân Lộc tương đối ít khắc nghiệt hơn trại tù Xuân Phước (tức trại
Kiên Giam) mà người tù còn bị miếng ăn dằn vật đến như thế, thử tưởng tượng ở
trại tù Kiên Giam người tù nhân bị bao tử hành hạ tới bực nào!
V. Những cái nhìn thiết thực về Cộng sản
Vì ngây thơ về Cộng sản nên tác giả Nguyễn Chí Thiệp đã đổi lấy một bài học
bằng12 năm tù, do đó ông mới có cái nhìn thiết thực về Cộng sản:
"độc lập dân tộc
chỉ là một bước chiến lược. Xây dựng chủ nghĩa xã hội mới là cứu cánh". (trang
45)
Nhận xét về các lãnh tụ Cộng sản, Nguyễn Chí Thiệp tiết lộ như sau:
"Họ làm lãnh
tụ cách mạng là biết cách thúc đẩy toàn dân làm cách mạng, còn họ thì hưởng, gia
đình họ hưởng; họ quyết tâm giải phóng miền Nam, nhưng ra chiến trường là người
khác chết, con em người khác chết. Các lãnh tụ không ai có con phải vào chiến
trường B cả, con của họ đi học ngoại quốc. Họ cấu kết nhau thành một tầng lớp
thủ lợi riêng tư sống trên xương máu của nhân dân, cấu kết với nhau trong nước
chưa đủ để củng cố địa vị, họ còn cấu kết với nước ngoài. Ông Lê Duẩn đem gả con
gái cho cháu trai của Breznev bên Liên Sô không phải để giữ chắc cái ghế Tổng Bí
Thư là gì". (trang 187)
Tại sao Cộng sản chủ trương bạo lực, tập trung Dân Chủ và đấu tranh giai cấp?
Tác giả Nguyễn Chí Thiệp trả lời như sau: "Ðảng Cộng sản và chủ trương bạo lực là
phương tiện để các nhà lãnh đạo củng cố chính quyền độc tài của mình, biến người
dân thành một công cụ sản xuất. Tập trung Dân Chủ là một thuật ngữ để biện minh
cho tính độc tài, đấu tranh giai cấp là một đường lối để tiêu diệt kẻ đối lập".
(trang 260)
Tác giả than: "Chính sách của Cộng sản đã phi nhân, tàn nhẫn mà tổ chức chính
quyền còn làm cho sự tàn nhẫn đó tăng thêm nữa". (trang 265) Ông viết tiếp:
"Xã
hội Cộng sản, con người chỉ phát triển tính ác. Tóm lại, chế độ Cộng sản được
xây dựng trên một lý thuyết sai lầm, dùng hận thù làm một động lực kết hợp và
phát triển, khai thác tính ác, tính xấu và tính đố kỵ bần tiện của con người; tổ
chức nặng nề và thư lại nên chế độ Cộng sản là một chế độ cực kỳ xấu xa, con
người Cộng sản hầu hết là những người độc ác và đê tiện. Dân chúng sống trong
chế độ Cộng sản cực kỳ nghèo đói, khổ sở". (trang 272)
Ðể trả lời câu hỏi Liệu chế độ Cộng sản có thể tồn tại lâu dài tại Việt Nam hay
không?, tác giả quả quyết: "chế độ Cộng sản không thể tồn tại lâu dài ở Việt Nam,
nó không phải là bất khả thay thế hay bất khả đánh đổ như những người trí thức ở
Hội Trí Thức Yêu Nước lý luận". (trang 197) Vì rằng
"Nó chỉ tồn tại ở bên ngoài
bởi tổ chức và bạo lực áp bức, còn bên trong nó bị chính con người đào tạo ra nó
từ khước". (trang 197) Tuy nhiên, tác giả cẩn thận nhắc nhở chúng ta:
"Nó sẽ bị
đánh đổ, nhưng muốn đánh đổ một chính quyền có sức mạnh bạo lực và có tổ chức
chặt chẽ là một vấn đề rất khó khăn và đòi hỏi thời gian, không phải một sớm một
chiều mà làm được như nhiều người mong muốn". (trang 197-198)
Về phương thức chống Cộng sản ở trong nhà tù, tác giả tiết lộ như sau:
"Bọn cán
bộ Cộng sản được giáo dục hận thù, chúng càng thấy người tù khổ sở, đau đớn
chúng càng thích thú. Chỉ có giữ cho tinh thần vững mạnh là một phương thức
chống Cộng sản căn bản nhất trong nhà tù. Chịu sự hành hạ mà không tỏ ra khổ sở,
vẫn dửng dưng càng làm cho bọn cán bộ Cộng sản tức tối". (trang 230)
Nhận xét về biện pháp tẩy não của Việt Cộng, tác giả viết:
"Không phải chỉ có
những bài học tuyên truyền, bằng luận cứ một chiều, bằng những từ ngữ khuôn mẫu
để tẩy não người tù; mà bằng cách sống hàng ngày, tạo sự sợ hãi và tuân phục
cũng là một biện pháp tẩy não". (trang 254)
VI. Những mong ước và hoài bão
Ngay cả những lúc nằm trong xà lim, Nguyễn Chí Thiệp vẫn luôn mơ ước có một cuộc
chiến đấu mới: "Tôi mơ ước bạn bè của tôi và cả những người có trách nhiệm làm
mất miền Nam sau khi chạy trốn thoát thân, biết kiểm điểm lại tội lỗi của mình,
rút ưu khuyết điểm của cuộc chiến đấu vừa qua, gạt bỏ đi những tàn tích cũ,
những thói hư tật xấu do hậu quả của lịch sử một trăm năm bị nô lệ Pháp để làm
lại một cuốc chiến đấu mới. Người chiến sĩ không phải một lần thua trận là hếtđã
là chiến sĩ phải đứng lên chiến đấu sau một lần bị ngã. Phải chiến đấu trở lại.
Nếu sau lần ngã rồi nằm im luôn thì không xứng đáng là một chiến sĩ, không xứng
đáng là một quân nhân". (trang 133)
Ông cũng mong cả những nhà lãnh đạo Miền Nam và các Tướng lãnh hãy làm lại một
cuộc chiến đấu mới: "Tôi mong Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Phó Tổng thống Nguyễn
Cao Kỳ, các Tướng lãnh đã chạy ra ngoại quốc không nằm hưởng những của cải thu
gópsống cuộc sống xa hoa ở ngoại quốc. Tôi mong họ tiếp tục tập hợp lại những
người đã chạy. Nhận rõ những lỗi lầm của mình với dân với nướcnếu họ không làm
được như vậy, họ không xứng đáng mang danh dự là một chiến sĩ. Tôi tin tưởng vào
sức sống của dân tộc, vào tinh thần chống Cộng của toàn dân đang biểu lộ rất
nồng nhiệt chỉ thời gian ngắn sau khi Cộng sản chiếm hoàn toàn nước Việt Nam,
thật nhạy bén khi họ nhận rõ Xã Hội Chủ Nghĩa không phải là một mô thức cần
thiết để xây dựng đất nước, sự từ khước văn hóa Cộng sản ở mọi người dân Việt
Nam kể cả những người nông dân trước kia đội gạo nuôi kháng chiến và kể cả tiềm
tàng những người đảng viên Cộng sản có tâm huyết với sự tồn tại và phát triển
của dân tộc và đất nước như chú Bình và theo như lời chú Bình, thành phần này
không ít trong hàng ngũ đảng viên Cộng sản, họ chỉ chờ thời cơ là làm một cuộc
chiến đấu mới". (trang133-134)
Bởi vì "Việt cộng chiếm miền Nam không phải đã kết thúc một cuộc chiến tranh, nó
chỉ kết thúc một giai đoạn lịch sử và nó khởi đầu một giai đoạn lịch sử mới".
(trang 124)
Tác giả hy vọng: "Tôi hy vọng rất nhiều vào tương lai, luôn luôn tôi có niềm tin
là đất nước Việt Nam sẽ có ngày hưng thịnh trở lại, và toàn dân Việt Nam sẽ đứng
lên làm một cuộc vận động lịch sử mới cho dân tộc, tất cả hầu như đã sẵn sàng
chỉ còn chờ một hiệu lệnh phát khởi. Tôi tin vào sự trưởng thành của dân chúng
và trong vận hội mới đó sẽ lọc lựa được những người đủ tài trí, thực tâm đối với
con người, xã hội và đất nước thành người lãnh đạo tương lai và sẽ tự động đào
thải những thành phần cơ hội, hoạt đầu tham vọng cá nhân". (trang 513)
Và tác giả luôn vững tin vào một ngày mai chế độ Cộng sản sẽ bị tiêu diệt hoàn
toàn: "Các nước Cộng sản không thể giam hãm mãi con người và tư tưởng của dân
chúng sau bức màn sắt. Những nhận thức và hiểu biết mới về con người, làm cho tư
duy thuần lý, giáo điều và các cơ cấu chính trị, kinh tế trên hệ tư tưởng đó trở
nên lỗi thời. Ðó là nguyên nhân sự cáo chung của chủ nghĩa Cộng sản. Cộng sàn
chỉ còn lại hình thức tổ chức, ở nơi nào dân chúng và chính đảng viên Cộng sản
đứng lên đấu tranh xóa bỏ tổ chức thì chế độ Cộng sản sẽ [bị] tiêu diệt hoàn
toàn". (trang 526)
Vì: "Trước kia lòng yêu nước và tình thương con người và lý tưởng công bằng bị
Cộng sản tương tranh và họ ở thế hấp dẫn hơn. Ngày nay, chúng ta hoàn toàn thuận
lợi ở những giá trị tinh thần này. Chỉ có những giá trị tinh thần này mới là
động lực của toàn dân. Sức mạnh tinh thần cộng thêm phương tiện vật chất và kỹ
thuật tổ chức là những yếu tố tất thắng của người quốc
gia. Sức mạnh tinh thần đã
có; chỉ còn hai yếu tố sau, như vậy, vấn đề chống Cộng ngày hôm nay sớm muộn tùy
thuộc vào khả năng kết hợp thành tổ chức và sự huy động phương tiện, phương tiện
có thể từ chính của chúng ta có được hay cả sự giúp đỡ của đồng minh". (trang
531)
* * *
Ðể kết thúc "Lời Nói Ðầu của Dịch Giả" cho bản dịch cuốn hồi ký
"Lời Nguyện Cầu" (in
năm 1986) của Sergei Kourdakov, nhà văn Nhị Lang đã hạ bút như sau:
"Thương tiếc
Sergei Kourdakov, tôi quyết truyền bá những giòng chữ viết bằng máu và nước mắt
của anh, để gọi là góp công cùng anh trong công cuộc đấu tranh tràng kỳ chống
chủ nghĩa mác-xít vô thần và bảo vệ tín ngưỡng. Tôi cũng hy vọng tấm gương phản
tỉnh của anh sẽ làm sáng mắt những kẻ nào ở đây, ở khắp thế giới, và ở Việt Nam,
đã và đang rắp ranh bán rẻ linh hồn cho bọn quỷ đỏ, để đời đời bị nguyền rủa, bị
chà đạp, bị khinh khi, như những thứ vi trùng ghẻ lở, như những đứa sát nhân ghê
tởm mà xã hội văn minh không bao giờ dung thứ".
Vâng, Cộng sản Việt Nam quả đúng là những thứ vi trùng ghẻ lở, những đứa sát
nhân ghê tởm mà người Việt Nam không bao giờ dung thứ được.
Người viết hy vọng cuốn hồi ký của Nguyễn Chí Thiệp và cả những cuốn hồi ký khác
sẽ là những tiếng chuông cảnh tỉnh cho những người Cộng sản Việt Nam mau sớm
thức tỉnh mà quay đầu tạ tội với Quốc Dân, lập tức từ bỏ bạo lực, và nhường
quyền lãnh đạo đất nước cho những người thực sự yêu nước và có trình độ hiểu
biết cao hầu tái lập lại một xã hội công bằng, bác ái và lành mạnh để đất nước
sớm vươn mình cùng những nước anh em văn minh tân tiến, hòa bình và thịnh vượng
trên thế giới. Tôi cũng hy vọng tác giả cuốn hồi ký "Trại Kiên Giam" luôn luôn giữ
được bầu nhiệt huyết và ý chí kiên cường của thuở nằm gai nếm mật để cùng các
hào kiệt đứng lên mở một mặt trận mới cho đến ngày thắng lợi của Dân Tộc.